Trong quá trình tập tành
Tất nhiên là tối mò mò và chứa đầy nước. Trên mũ bảo hiểm.
Việc huấn luyện cho các thủy thủ khả năng đương đầu giành lại sự sống trên tàu lặn. Các thủy thủ trong phòng bị nước tràn vào tức thì phải tìm mọi cách để bịt lỗ hổng bằng một thanh giằng bằng gỗ và chất keo dán đặc biệt. Chính nên
Nhiệt lượng sinh ra hết sức lớn kèm theo khói và mùi khét làm lượng oxy giảm đi đột ngột. Các thủy thủ thoát khỏi tàu ngầm từ đâu? Khi tàu ngầm bị chìm do sự cố và không nổi lên được.
Thiết bị này chẳng thể làm việc dưới nước nhưng có thể giúp thủy thủ bảo vệ cơ quan hô hấp khỏi các loại khí độc hại. Ngoài ra. Đây sẽ là chiếc tàu lặn Kilo trước hết gia nhập vào hạm đội tàu lặn của Việt Nam
Cần tìm hiểu về các loại “đồ nghề”. Các thủy thủ phải mau chóng mặc đồ bảo hộ. Như vậy phương pháp khô giúp các thủy thủ thoát khỏi tàu lặn một cách an toàn mà không phải tiếp xúc với nước.
Sau đó nước không được bơm vào thêm nữa. Cửa khoang sinh tồn được trang bị một phao sơn màu trắng và đỏ được nối với một sợi dây cáp gắn trong các hầm tàu
Trong bài tập này. Sau khi ra khỏi phòng xông khói đen. Ngoài ra
Khi đối mặt với lửa. Thiết bị này có một hệ thống thoát nước và van thông khí.
Các thủy thủ phải mang các thiết bị lặn cá nhân như ISP-60 và IDA-59 theo đúng qui định. Làm thế nào để thoát khỏi tàu lặn gặp nạn? Có hai cách căn bản để thoát khỏi tàu lặn bị chìm đó là phương pháp khô và phương pháp ướt. Không đủ lớn để thủy thủ có thể thoát ra ngoài
Các thủy thủ phải vặn các van ở thiết bị lặn cá nhân chủ nghĩa để thăng bằng áp suất với bên ngoài.
Đây là một bài tập không hề dễ dàng và có thể nguy hiểm đến tính mệnh của thủy thủ. Ánh sáng. Và tuần tự đưa các thủy thủ từ tàu lặn bị chìm vào tiềm thủy khí. Mỗi thủy thủ đều được trang bị các thiết bị bảo hộ
Thủy thủ có thể thoát ra khỏi tàu ở phía mũi (phê duyệt ông phóng lôi) và phía đuôi (thông qua nắp khoang sinh tồn). Nước được bơm ra khỏi tiềm thủy khí.
Để mô phỏng hỏa hoạn trên tàu lặn. Hiểu sâu về quá trình huấn luyện khôn cùng gian truân và khắc nghiệt này.
Thủy thủ phải phát tín hiệu báo hiệu rằng mình đã ra ngoài an toàn song song bám theo dây phao để bơi lên mặt nước
Bên trong ống phóng lôi có các rãnh chạy dọc theo chiều dài của ống cùng rất nhiều các chi tiết như móc và cần trục để thủy thủ có thể bám và trườn qua ống nhổ này ra ngoài.
Thủy thủ có thể thoát ra khỏi tàu ngầm qua các ông phóng lôi. Các thao tác phải thực hiện nhanh trong thời kì không quá một phút rưỡi.
Mỗi thủy thủ còn được trang bị một bộ áo quần lặn (áo liền quần) SGR. Xem thêm: Phần 1: Thủy thủ tàu ngầm Kilo được huấn luyện như thế nào?
Để vận hành tàu lặn một cách hiệu quả. Có hai cách để thoát khỏi "cỗ quan tài sắt bị chìm" bằng phương pháp ướt là nổi lên tự nhiên và theo cáp phao tiêu. Sau khi thực hành kết liên với tàu. Cân bằng áp suất
Nếu nước tràn vào quá nhiều. Để đương đầu với cái lạnh dưới lòng biển. Tiếp đó các thủy thủ sẽ được huấn luyện khả năng chịu đựng khi ở trong một phòng xông khói đen. Thiết bị cứu hộ tàu ngầm. Ngay trên trán
Cần chú trọng tới công tác huấn luyện thủy thủ tàu ngầm. Các thủy thủ sẽ được huấn luyện tại trọng điểm mô phỏng giống hệt tàu lặn thật.
Nơi các thủy thủ có thể thoát ra khỏi tàu ngầm (nhìn từ bên ngoài). Cả IDA và SGR đều được cất trong một túi đặc biệt. Tuy nhiên
Trong quá trình đào tạo. Khói và lấy đi oxy của các thủy thủ. Sau đó. Phương pháp này cho phép giải cứu ê-kíp ở độ sâu bằng độ lặn sau lớn nhất của tàu lặn
Bên trong phòng kim loại (giống như tàu lặn thực) bố trí một vòi phun nhiên liệu diesel. Các thiết bị bảo hộ có thể giúp các thủy thủ duy trì sự sống khi tàu ngầm xảy ra tai nạn. Khói làm mờ kính bảo hộ và các thủy thủ chừng như không còn nhìn rõ mọi thứ
Lửa được tạo ra giống hệt như thực tế. Hàng trăm thủy thủ trên thế giới đã thiệt mạng vì các vụ tai nạn liên tưởng đễn “cỗ cỗ ván sắt” tàu lặn trong những thập kỷ gần đây. Nổi lên tự nhiên được thực hành trong trường hợp sức ép ở độ sâu tối đa của cửa thoát hiểm (100 mét) giữ được trong thời gian không quá 2 phút. Tàu lặn Kilo Hà Nội đã được phía Nga bàn giao cho Việt Nam.
Trọng tâm đào tạo được lắp đạt một cái ống đứng đặc biệt cao khoảng 15m để mô phỏng một tàu ngầm bị chìm và các thủy thủ sẽ được huấn luyện cách để thoát khỏi chiếc tàu lặn bị chìm đó
Nếu vượt quá thời kì này - chỉ có cách là dùng dây phao. Bài viết dưới đây sẽ đem đến một cái nhìn toàn diện về cuộc đấu tranh sinh tồn của các thủy thủ trên những chiếc tàu lặn của Hải quân Nga. Bài tập này rất cần thiết. Các thủy thủ còn được huấn luyện để đối phó với trường hợp tàu bị thủng và nước tràn vào từ bên ngoài.
Bởi trong trường hợp xảy ra hỏa hoạn
Khi nghe còi báo động chữa cháy. Khi có còi báo động. Một thiết bị thở cá nhân khác là ISP-60 có thể giúp các thủy thủ thoát khỏi tàu lặn bị chìm ở độ sâu 100m. Có nhẽ. Các khoang của tàu ngầm còn được trang bị các cuộn dây lớn trên đó được quấn cáp phao tiêu với các nút phao hình cầu được đánh số (gọi là cạc-bin)
Trong trường hợp này. Các thủy thủ còn được trang bị một bộ đồ lặn toàn thân bao gồm: áo săng đay. Tuy nhiên. Sở dĩ. Về cách mà họ được huấn luyện để thoát ra khỏi “cỗ hòm sắt” khi nó bị chìm dưới đáy đại dương
Thoát khỏi tàu lặn bằng dây phao. Cũng như huấn luyện đội ngũ cứu hộ chuyên nghiệp đã trở nên vấn đề quan trọng nhất trong quá trình vận hành tàu lặn của những quốc gia đang sở hữu loại dụng cụ tranh đấu hiện đại này.
Phải nắm rõ nguyên tắc hoạt động và thuần thục cách dùng các loại thiết bị này. Sau khi thoát khỏi tàu lặn. Bên trong chiếc ống đặc biệt này
Thủy thủ từ từ ra khỏi ống phóng. Khi này các van thăng bằng áp suất thực hành nhiệm vụ cân bằng áp suất bên trong với bên ngoài ống phóng lôi. Các van cân bằng áp suất ngoài nhiệm vụ làm cho áp suất bên trong của thiết bị phóng lôi với áp suất cân bằng nhau còn có tác dụng đóng và mở nắp từ bên trong. Người lính tàu ngầm đã được huấn luyện để có thể vượt qua rào cản vô hình đó. Túi thở IDA-59 (59M) là thiết bị thở cá nhân chủ nghĩa giúp thủy thủ lặn đến độ sâu 20m
Không thể bịt lỗ hổng. Điều này sẽ giúp cho thủy thủ tạo ra một các khóa tự động khi thoát ra khỏi tàu lặn trong trường hợp tàu gặp nạn. Thủy thủ có thể thoát ra ngoài qua ống phóng lôi vì đường kính ống phóng lôi thường từ 55-65cm và chiều dài từ 8-11m. Hao hao như với việc thoát ra từ các của thoát hiểm phía trên tàu ngầm.
Xác định vị trí nguồn lửa và tiến hành dập lửa bằng ống phun bọt
Mô phỏng trường hợp tàu bị thủng và nước trang vào khoang tàu. Bất cứ ai cũng đều có tâm lý hoảng sợ.
Khi ngọn lửa bùng cháy. Phương pháp ướt có thể hiểu là quá trình thoát khỏi tàu lặn buộc các thủy thủ phải tiếp xúc với nước. Các thủy thủ sẽ được huấn luyện trong một phòng bọc kim có kết cấu giống hệt như tàu lặn thật
Chỉ có những ai là lính tàu ngầm hoặc đã từng phục vụ trên tàu lặn thì mới hiểu rõ. Một bài tập nữa đó là bài tập thoát khỏi tàu ngầm. Số lượng thủy thủ phụ thuộc thể tích của tiềm thủy khí.
Duyệt y đó nó được làm đầy nước và cũng có thể tiêu thoát nước. Sau khi mở nắp
Tiềm thủy khí sẽ theo dây phao cứu hộ tiếp cận và đậu ngay trên nắp khoang tàu ngầm gặp nạn. Van thông khí mở ra và nước được đẩy ra khỏi xi-téc làm đầy ống phóng ngư lôi. Thiết bị thở xách tay PDU PDU là được thiết kế để bảo vệ cơ quan hô hấp khẩn. Đánh dấu một bước chuyển lớn cho sức mạnh hải quân của sơn hà
Đây là điều khôn xiết quan trọng vì chỉ cần thao tác sai nguyên tắc sẽ dẫn đến hiểm nguy khôn lường. Và tới 120m nếu tàu ngầm được bổ sung một bình chứa khí hê-li. Các cạc bin này được sắp xếp dọc theo sợi dây phao để thủy thủ bám vào khi thoát ra từ tàu lặn.
Thiết bị bảo vệ cá nhân trước nhất. Tuốt tuột và bao tay. Bám vào cạc-bin của dây phao tiêu và thoát ra khỏi con tàu. Nếu trong trường hợp áp suất vượt quá vơ các giá trị cho phép ghi trong bảng.
Các thủy thủ phải trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ cá nhân chủ nghĩa như đã nói ở trên và đi lên mặt nước từ cái ống thẳng đứng này với dây phao tiêu.
Trong đó có tàu ngầm Kilo. Phao còn được gắn các đèn báo hiệu và phía dưới nắp phao có điện thoại để giao thông với tàu thuyền. Các thủy thủ chóng vánh lao sang phòng bên cạnh đã được chuẩn bị sẵn (mô phỏng khoang tàu lặn không bị thủng) và phải kịp thời đóng chặt cửa khoang để nước không tràn vào. Nhiên liệu được đốt cháy sinh ra nhiệt. Tuy nhiên. Trong trường hợp thoát ra bằng ống phóng ngư lôi.
Nước được phun vào phòng (mô phỏng một khoang của tàu ngầm) qua một lỗ hổng đã được tạo ra trước đó. Cũng có loại ống nhổ lôi đường kính chỉ 40 cm.
Mở nắp. Song song cung cấp cho thủy thủ thông báo về độ sâu cũng như áp suất tại độ sâu ứng. Là van cứu trợ. Để có thể thực hành phương pháp này. Ngoài huấn luyện khả năng ứng phó với hỏa hoạn. Ngoại giả. Lực lượng cứu hộ của trọng tâm phải luôn sẵn sàng để viện trợ các thủy thủ duyệt kính hồng ngoại. Những thiết bị giúp cho thủy thủ có thể thoát ra khỏi tàu ngầm một cách an toàn nhất.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét