Và một cách máy móc là cứ chờ cho mực nước trên 20,5 m là xả cho nó trở về mức 20,5 m, bất kể tình hình lúc đó thế nào. Nếu thực hành việc quản lý một cách có nghĩa vụ, thì ban quản lý có thể theo sát tình hình thực tiễn để thực hiện việc xả lũ linh hoạt hơn.
Đây quả là một nghịch lý khó có thể ưng ý. Vì lẽ đó chúng tôi cho rằng, nên có cơ chế chế tài, quy bổn phận khi việc xả lũ gây ngập lụt và thiệt hại cho người dân. Trong hàng chục năm qua, việc xả lũ các hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện gây ra nhiều vụ ngập lụt nghiêm trọng trên cả nước.
Và thực tiễn thì với mỗi hồ nhất định, người ta có thể tính được trong mùa mưa ấy nó nhận bao lăm nước, cần phải xả đi một khối lượng là bao lăm, chừa lại bao nhiêu.
Phải gắn việc bảo vệ an toàn các hồ chứa với sự an toàn của người dân, không thể vin vào việc bảo vệ các hồ chứa rồi muốn làm gì thì làm, bất chấp hậu quả xảy ra khi xả lũ. Vì suốt cả mùa mưa tới đây hồ này còn rất nhiều lần được nhận nước. Lấy tỉ dụ với cơn bão vừa qua, nó xuất hiện vào đầu mùa mưa, được dự báo là mạnh, thì có thể xả lũ sớm khi bão chưa vào.
Tại sao? cứ vào quy trình như vậy thì chúng ta thấy, hồ này muốn tích lũy một mức nước có độ cao là 20,5 m trước khi vào mùa khô. Luật gia Trần Đình Thu. Nhưng ở đây do một quy trình quan phản khoa học là phải trên 20,5 m mới xả lũ nên những người quản lý cứ ngồi chờ, dù cho họ có thể biết việc xả lũ sớm là có lợi hơn.
Làm theo cách này thì quá đơn giản cho bộ phận quản lý hồ nhưng đem lại nguy cơ lớn cho xã hội. Đối với một hồ chứa nước, trong mùa mưa, có rất nhiều lần nó được nhận nước.
Nhưng chưa thấy Bộ NN-PTNT có giải pháp nào khắc phục.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét