Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Cây “cần mới cập nhật vọt” của làng quê xưa.

Tối

Cây “cần vọt” của làng quê xưa

Người ta cũng dùng dùi sắt nướng đỏ xoi lỗ vừa khít cho cây chốt sắt (ăn vào hai trụ) chui qua được. Mười nhà như một. Tránh va chạm vào bờ ao. Từ ao lên; nhưng đây không phải đưa bằng kiểu múc. Khoảng trống giữa 2 trụ phải vừa đủ rộng để cần bẩy tự do chuyển di xuống – lên. Sử dụng được rồi. Chịu thương chịu khó của người quê.

Sau đó chui tiếp vào lỗ trụ 2. Thỉnh thoảng cũng có cần vọt; nhưng thường thì ít thấy. Đợi lúc khác hẵng hay. Thành ao). Thành giếng. Chuyên cần. Dính mắc ở đâu là được. Nếu đuôi cần ngắn quá. Phải giã làng ra đi vì ngày mai.

Kéo. Không có lợi gì về công mà chỉ giúp ta thay đổi phương của lực kéo (kéo xuống. Bị “tức”. Tát nước bằng gầu sòng Tìm cần vọt thì đơn giản hơn; chỉ cần chọn cây tre đực nào thân thon. Bờ rạch hoặc bờ mương. Làng quê không còn; nhưng cái thanh âm kẽo cà ẽo ẹt kia thì vẫn còn… Phải. Ấy là theo lí thuyết. Trưa ẽo ẹt. Muốn làm cần vọt. Chỗ ấy phải vừa tầm.

Gàu dễ đụng thành giếng. Sớm sớm chiều chiều. Dài thì vướng; thế nhưng. Thì đuôi cần vẫn chưa đụng đất. Trước tiên người ta phải nhắm nhe địa thế.

Cây cần vọt luôn là dụng cụ chủ lực để lấy nước ăn. Bởi giữa đồng trống người quê ưa tát nước bằng gàu dây (gàu dai) hơn.

Còn mãi; dẫu cho đã lặn đâu trong tận cùng thẳm sâu kí ức. Đầu ngọn được nối thẳng vào đầu ngọn cần bẩy bằng một đoạn dây thừng chắc chắn. Dùng cần vọt

Cây “cần vọt” của làng quê xưa

Nâng. Cái gàu dai ấy – nói nhỏ nghe – cũng thuộc hàng một trong những đối tượng rất quê và rất thơ. Kéo lên luôn theo đường thẳng. Nhất định 2 đầu chốt sắt không để bị tuột ra. Lũ cần vọt ấy làm nhiệm vụ tưới tắm cho cây cối hoặc vài vạt lúa. Tại những chân ruộng (bậc thang) cao. Đầu gốc cần vọt cũng dùng dùi sắt nướng xoi ngang 2 lỗ nhỏ để xỏ chốt mắc gàu xách nước.

Tại vị trí chọn làm điểm tựa trên thân cần bẩy. Dài tương đương độ sâu của giếng. Cân đối. Không bị đụng thành giếng (hoặc bờ ao). Sáng kẽo cà. Nhưng thôi. Xách nước sẽ rất nặng. Thẳng băng. Thả lên níu xuống vài tua xem cần di chuyển hoàn toàn theo ý của ta chưa. Lúc này. Cây cần vọt luôn đồng hành cùng quê (xưa) như một biểu trưng cho ý thức sáng tạo. Nước tưới cho cả làng quê.

Hơi cong để chịu tốt lực uốn. Có nhà còn có đến hai hoặc ba cây – bởi ngoài cây cần vọt chính (ngự nơi giếng nước ăn) - còn có thêm vài cây cần vọt phụ chồm chỗm ngỏng cổ cạnh bờ ao. Đành biểu đạt cho chi tiết hơn một tí cái qui trình chế tác để người đọc dễ mường tưởng.

Nhưng vào thực tế - chỉ ai từng làm mới biết – vọt nước bằng cần vọt đỡ tốn sức và nhanh gấp đôi (thậm chí gấp ba) chiêu dùng gàu xách cột dây! Thế nên ngày chưa có máy bơm.

Hình ảnh cây cần vọt được bộc lộ theo ký ức hi hữu ngoài đồng. Đầu trên có xỏ lỗ để đóng chốt sắt ngang.

Nó vẫn còn khôn nguôi da diết tiếng gọi đàn… Theo Báo Phú Yên. Xách bình thường như khi sử dụng gàu dây; nước được vọt từ thấp lên cao dựa theo nguyên tắc đòn bẩy! Kéo nước bằng gầu Cứ nhìn kĩ một trụ cần vọt đang hoạt động khắc biết: cánh tay đòn chính là cần bẩy.

Gia giảm sau tùy theo đối trọng – tức trọng lượng cần vọt và gàu nước). Đổ nước dễ dàng là mọi sự xong; có thể đưa “công trình” vào phá hoang.

Chuyện này thì kẻ thiết kế phải chịu thương chịu khó mà cân đối sao cho thuận anh thuận ả Làm không trôi. Vật nặng buộc đằng sau đuôi là lực bẩy. Tiếng kẽo kẹt kẽo cà cứ nỉ non. Cho cái đức nhẫn nại. Chuẩn bị sẵn vài ba vật nặng mà buộc dính sau đuôi cần bẩy. Lực nâng sao cho gàu được đưa xuống. (Độ nặng ấy sẽ được tâm tính

Cây “cần vọt” của làng quê xưa

Người ta tiến hành lắp cần bẩy vào trụ: đưa cần bẩy vào giữa hai trụ (tại nơi điểm tựa); dùng cây chốt sắt tròn đã chuẩn bị trước đóng ngang qua trụ 1. Múc. Chui qua điểm tựa trên cần bẩy. Vì trách nhiệm - hoặc vì cuộc mưu sinh. Tác dụng ấy có sự góp phần đắc lực của sợi dây nối (khá linh hoạt) giữa cần vọt và cần bẩy.

Không được quá gần hoặc quá xa miệng giếng (gần quá xách bị nặng. Hơn thế. Nếu cần dễ dàng điều khiển. Phải chỉnh sửa dăm ba bận là chuyện thường! Khi đâu đó đã sẵn sàng. Cần bẩy được làm bằng nguyên thân tre cái già to.

Thay vì kéo lên như khi dùng gàu dây xách nước!). Nó còn. Nếu thấy hệ thống hoạt động suôn sẻ. Cái điểm tựa ấy phải được tính hạnh sao cho khi cần bẩy gục xuống hết cỡ thì đầu cần đến đúng ngay tâm miệng giếng; còn khi cần bật lên hết cỡ. Cần vọt còn giúp người mang nước đi xa hơn (trong phạm vi bán kính vài ba mét quanh giếng) một khi gàu được kéo lên khỏi giếng mà không tốn nhiều sức.

Có tác dụng nâng vật nặng (gồm cần vọt và gàu nước) từ dưới giếng vọt thẳng lên. Giờ ta đang dở chuyện cùng cây cần vọt… Cần vọt là gì? Tên cho vật dụng nói trên thuộc loại mường tưởng từ tuyệt đối xác thực: ấy là cây cần (giống… cần câu; có điều cây “cần câu” này to ơi là to!) dùng để vọt nước! Vọt nước; bản tính cũng là đưa nước từ giếng.

Nói thì đơn giản ( với những người đã từng thấy. Mắc gàu vào cần vọt. Xa quá thì khó đổi phương lực kéo. Biết); nhưng với người chưa bao giờ “sở thị”. Điểm tựa là 2 trụ cần vọt. Vạt ngô trồng tranh thủ trong vườn là chính. Hi hữu. Thầm thì vào tai đứa trẻ quê từ khi tỉnh ngộ nằm nôi đến tận lúc khôn lớn. Còn cần vọt? Ấy là công cụ biến đổi phương của lực kéo.

Không bị rung chao. Chọn chỗ phù hợp nhất mà chôn trụ. Cần bẩy phải có khả năng quay tròn lên xuống tự do xung quanh cây chốt sắt. Lô nhô sắp hàng cần vọt. Kẽo cà ẽo ẹt.

Lực nâng không đủ. Trụ thường là hai (hoặc bốn - nếu muốn thêm chắc chắn!) gốc tre đực già chôn sâu đồng thời. Hình dong cho ra e rằng cũng hơi… vất vả. Nâng lên thả xuống thử vài lần. Nói theo ngôn từ kĩ thuật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét